Danh mục
Hỗ trợ trực tuyến
Tư vấn viên
Mr: Hiếu-KD
Mr Hiếu
0388350888
Ms: Dung-TV
0986609890
0986609890
Heantos 4 Giai đoạn nghiên cứu theo quy định Bộ Y Tế
Heantos 4 Giai đoạn nghiên cứu theo quy định Bộ Y Tế

Heantos 4 là sản phẩm mới nhất của quá trình này. Thực hiện quyết định số 2259/QĐ-BYT ngày 23/06/2008 về việc nghiên cứu bài thuốc Heantos 4 điều trị hỗ trợ cắt cơn cai NMT nhóm opiats, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này. 

1. Đặt vấn đề

 

Nghiện ma tuý (NMT) là một tình trạng nhiễm độc mãn tính do dùng lặp đi lặp lại lâu ngày một chất gây nghiện. ở nước ta hiện nay NMT chủ yếu vẫn là nghiện các chất dạng thuốc phiện. Thời gian đầu người nghiện sử dụng ma tuý để tìm kiếm những cảm giác lạ, trạng thái lâng lâng đi mây về gió…mà không dùng ma tuý không thể có được. Sử dụng lâu ngày thành quen, thèm nhớ sử dụng lại, và đã nghiện lúc nào không hay. Khi người nghiện sức khoẻ giảm sút hay vì một lý do nào khác phải ngừng sử dụng ma tuý sẽ xuất hiện hội chứng cai với những biểu hiện chính: thèm nhớ mãnh liệt, chảy nước mắt nước mũi, vã mồ hôi, nổi da gà, đau mỏi người, buồn nôn, nôn, đi ngoài, mất ngủ…Hội chứng cai với những triệu chứng rất khó chịu, thường xảy ra cấp tính đã buộc người nghiện phải quay lại sử dụng ma tuý. Chỉ khi nào người nghiện vượt qua được hội chứng cai thì họ mới có thể tham gia vào các giai đoạn điều trị chống tái nghiện về sau, chính vì vậy việc điều trị hội chứng cai ( điều trị cắt cơn nghiện) là việc không thể thiếu trong các liệu trình điều trị bệnh nhân NMT.

 

 Cho đến nay trên thế giới cũng đã có nhiều những phương pháp hỗ trợ điều trị hội chứng cai nghiện ma túy nhóm opiats khác nhau: liệu pháp cắt ngang (còn gọi là cai khô, cai bo) [10], [14], liệu pháp tâm lý, phương pháp giảm dần liều [12], [17], phương pháp thùy miên [16], [19], phương pháp thay thế [18], dùng các thuốc hướng thần [1], [11], dùng thuốc hạ huyết áp clonidin (catapressane) [17], [19], phương pháp châm cứu, dùng các thuốc cổ truyền...Mỗi phương pháp, mỗi bài thuốc đều có những ưu, nhược điểm khác nhau, đối tượng chỉ định khác nhau, không thể chỉ sử dụng một phương pháp, một bài thuốc để điều trị cho tất cả những người nghiện ma túy và nhu cầu đa dạng hóa các bài thuốc, các phương pháp hỗ trợ điều trị hội chứng cai nghiện opiats cũng là một nhu cầu bức thiết với những người làm công tác điều trị bệnh nhân nghiện ma túy hiện nay.

 

 Điều trị hội chứng cai, giúp người nghiện vượt qua hội chứng cai một cách nhẹ nhàng, an toàn và nhanh chóng hồi phục sức khoẻ là vấn đề vẫn luôn nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học không những ở Việt nam mà cả trên thế giới. Trong kho tàng kiến thức về Y học cổ truyền ông cha ta để lại cũng có nhiều những bài thuốc có tác dụng hỗ trợ điều trị hội chứng cai nghiện opiats. Một số bài thuốc đã chứng minh được tính an toàn và hiệu quả, đã được Bộ Y tế cho phép lưu hành và đã có những đóng góp đáng kể trong việc điều trị bệnh nhân nghiện ma túy như các bài Hufusa, Cedemex, Bông sen...Heantos là một bài thuốc  Y học dân tộc đã có thời gian lưu truyền và được sử dụng trong dân gian để điều trị cho những người nghiện thuốc phiện, lương y Trần Khuông  Dẫn sưu tầm được và chuyển giao cho viện Hóa học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Bài thuốc cũng đã có một quá trình nghiên cứu, cải tiến lâu dài về mẫu mã và dạng bào chế... và Heantos 4 là sản phẩm mới nhất của quá trình này.  Thực hiện quyết định số 2259/QĐ-BYT ngày 23/06/2008 về việc nghiên cứu bài thuốc Heantos 4 điều trị hỗ trợ cắt cơn cai NMT nhóm opiats, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này. 

 

2. Mục tiêu nghiên cứu

 

-  Đánh giá hiệu lực lâm sàng và tính an toàn của thuốc Heantos4 trong điều trị hỗ trợ cắt cơn cai NMT nhóm opiats tại những địa điểm khác nhau.

- Khảo sát tác dụng không mong muốn của thuốc Heantos 4 điều trị hỗ trợ cắt cơn cai nghiện ma túy nhóm opiats.

 

3. Kế hoạch nghiên cứu

 

3.1. Kế hoạch và thiết kế nghiên cứu

 

Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu tiến cứu, đa trung tâm, có so sánh trước - sau và so sánh đối chứng giữa các địa điểm nghiên cứu.

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu lâm sàng mở trên cơ sở theo dõi điều trị trong 7 ngày.

Kế hoạch nghiên cứu

STT

Nội dung công việc thực hiện

Sản phẩm

Thời gian

1

Hoàn thành và duyệt đề cương

Đề cương nghiên cứu

1-30/3/08

2

Họp triển khai nghiên cứu

Kế hoạch nghiên cứu

1-15/4/08

3

Đào tạo nghiên cứu viên (GCP training)

Nghiên cứu viên được đào tạo về GCP

15/4- 30/4/08

3

Điều trị bệnh nhân nghiên cứu

Bệnh án và hồ sơ nghiên cứu

30/4-15/11/08

4

Tổng hợp số liệu viết báo cáo

Báo cáo giai đoạn 3

15/11-15/1/09

5

Nghiệm thu cơ sở giai đoạn 3

ý kiến đóng góp

15/1-30/1/09

6

Nghiệm thu cấp Bộ

Báo cáo hoàn chỉnh

30/1-30/3/09

7

Họp tổng kết

 

4/09

 

3.2. Bàn luận về thiết kế nghiên cứu, việc chọn đối chứng

Nghiên cứu này là một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III, hiệu lực của thuốc Heantos 4 trong điều trị hỗ trợ cắt cơn cai nghiện ma túy nhóm opiats đã được khẳng định trong nghiên cứu ở giai đoạn II. Trong giai đoạn này nghiên cứu có nhiệm vụ tiếp tục đánh giá hiệu lực của thuốc trên một số lượng bệnh nhân lớn hơn và ở các vùng sinh thái khác nhau. Chính vì vậy việc tiếp tục sử dụng phương pháp nghiên cứu lâm sàng mở, so sánh trước - sau và so sánh đối chứng giữa các trung tâm là phù hợp, thống nhất trong việc so sánh kết quả nghiên cứu giữa các giai đoạn.

3.3. Lựa chọn đối tượng nghiên cứu, loại bỏ bệnh nhân ra khỏi điều trị hoặc đánh giá

3.3.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu

 Chỉ chọn vào nhóm nghiên cứu những bệnh nhân có đủ các tiêu chuẩn sau:

*  Tiêu chuẩn lâm sàng:

 Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD10) nghiện ma tuý gồm các tiêu chuẩn sau:

  • Thèm muốn mãnh liệt dùng chất ma tuý.
  • Có khả năng dung nạp cao đối với ma túy, cókhuynh hướng ngày càng tăng liều sử dụng chất ma tuý để thoả mãn nhu cầu.
  • Khó khăn trong việc kiểm soát hành vi sử dụng chất ma túy.
  • Khi ngừng dùng chất ma tuý sẽ xuất hiện hội chứng cai buộc phải dùng trở lại.
  • Sao nhãng các thú vui, thích thú cũ, giành nhiều thời gian để tìm và sử dụng ma túy.
  •  Biết rõ tác hại của chất ma túy mà vẫn tiếp tục dùng.

Bệnh nhân được chẩn đoán nghiện ma túy trên lâm sàng khi có 3/6 tiêu chuẩn trên [21].

* Tiờu chuẩn chẩn đoỏn hội chứng cai (theo phụ lục của quyết định số 5070/QĐ- BYT ngày 12/12/2007)

Hội chứng cai gồm các dấu hiệu sau:

Thèm chất ma tuý; ngáp; chảy nước mắt, ngạt mũi hoặc hắt hơi; nổi da gà hoặc ớn lạnh; đau cơ chuột rút; buồn nôn hoặc nôn; tiêu chảy; nhịp tim nhanh hoặc huyết áp tăng; giãn đồng tử; co cứng cơ bụng; ngủ không yên.

Hội chứng cai (+) khi bệnh nhân có 3/12 triệu chứng trên [2].

*  Tiêu chuẩn cận lâm sàng:

 Xét nghiệm nước tiểu tìm Opiats dương tính (NT+).

3.3.2. Tiêu chuẩn loại trừ

  Không đưa vào nghiên cứu những bệnh nhân sau:

+  Những bệnh nhân xét nghiệm nước tiểu không tìm thấy chất ma tuý khi mới vào viện (kết quả nước tiểu -).

+  Những bệnh nhân xét nghiệm nước tiểu tìm thấy chất ma tuý khi vào viện (kết quả nước tiểu +) nhưng không có triệu chứng hội chứng cai.

+  Những bệnh nhân có bệnh cơ thể cấp, mạn tính đã có biểu hiện suy giảm các chức năng nặng như suy tim, suy gan cấp, mãn, suy hô hấp, suy thận… và chống chỉ định dùng thuốc Heantos 4 và ATK.

+  Những bệnh nhân có HIV(+).

+  Những bệnh nhân có tổn thương thực thể não (động kinh, u não, viêm não...).

+ Bệnh nhân tâm thần phân liệt, trầm cảm kèm theo nghiện ma túy.

3.3.3. Tiêu chuẩn loại trừ trong quá trình nghiên cứu.

Không đưa vào diện tổng kết nghiên cứu những trường hợp sau:

+ Những trường hợp sau khi vào viện xét nghiệm máu có HIV (+).

+ Những trường hợp có chỉ số chức năng gan (SGOT, SGPT, gGT, Bilirubin) cao gấp 3 lần bình thường.

+ Những trường hợp trong quá trình điều trị phát hiện có bệnh lý cơ thể, tâm thần, não…

+ Những trường hợp phải dừng nghiên cứu khi có lý do chính đáng.

3.3.4. Tiêu chuẩn bệnh nhân cắt cơn nghiện bằng thuốc Heantos 4 thành công.

     Bệnh nhân uống thuốc Heantos 4 đúng phác đồ, điều trị đủ liệu trình, không còn hội chứng cai khi ra viện, kết quả xét nghiệm nước tiểu tìm opiats khi ra viện âm tính.

3.3.5. Tiêu chuẩn bệnh nhân điều trị Heantos 4 không thành công.

 +  Những bệnh nhân trong giai đoạn điều trị nghiên cứu có sử dụng thuốc khác không tuân thủ đúng phác đồ dùng thuốc Heantos 4.

+  Những trường hợp xin thôi không sử dụng Heantos 4.

+ Những trường hợp không thực hiện đủ quy trình điều trị nghiên cứu vì tự thấy thuốc không có tác dụng.

+ Kết thúc liệu trình test opiats còn (+).

3.3.6. Đánh giá mức độ nghiện của bệnh nhân.

  Dựa vào bảng điểm Himmelback cải tiến(Xin xem phụ lục).

3.3.7. Đánh giá diễn biến hội chứng cai:

 Đánh giá và cho điểm các triệu chứng cai theo Bảng đánh giá hội chứng cai (Xin xem phụ lục). Bảng đánh giá được xây dựng trên nguyên tắc: 

- Đánh giá chủ quan của bệnh nhân (bằng hình thức phỏng vấn)

- Những biểu hiện khách quan của bệnh nhân thể hiện ra (bằng quan sát).

* Cách theo dõi và cho điểm

 

Hàng ngày các bác sỹ trong nhóm nghiên cứu theo dõi, ghi chép các triệu chứng cai xuất hiện ở bệnh nhân. Mỗi ngày bệnh nhân được các bác sỹ thăm khám, nhận xét, đánh giá diễn biến mức độ nặng nhẹ của từng triệu chứng theo bảng đánh giá hội chứng cai ở 5 thời điểm khác nhau. Ngày thứ nhất, thăm khám và nhận xét lần đầu ngay sau khi bệnh nhân hoàn thiện các thủ tục nhập viện, thăm khám và nhận xét lần thứ 2 trước lúc uống thuốc khi bệnh nhân bắt đầu xuất hiện 2- 3 triệu chứng cai, lần thứ 3 sau khi bệnh nhân uống thuốc được 30 phút, lần thứ 4 và thứ 5 thăm khám, nhận xét trước và sau khi uống thuốc lần sau 30 phút . Ngày thứ 2 và thứ 3, thăm khám và nhận xét lần đầu vào khoảng 8 giờ sáng, những lần sau thăm khám và nhận xét ở các thời điểm trước và sau uống thuốc 30 phút. Từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 7 thăm khám, nhận xét ở những thời điểm 8 giờ sáng, 10 giờ, 14 giờ, còn 2 lần cuối là trước và sau khi uống thuốc buổi tối 30 phút. Hết ngày các bác sỹ kiểm tra lại và cho điểm các triệu chứng cai xuất hiện trong ngày. Mỗi triệu chứng cai được đánh giá và cho điểm theo bảng đánh giá hội chứng cai. Điểm số của từng triệu chứng cai được ghi nhận 1 lần vào hồ sơ nghiên cứu (phiếu theo dõi diễn biến hội chứng cai )  ở mức cao nhất mà triệu chứng đó đã thể hiện trong ngày: không điểm không ghi, một điểm ghi dấu (+); hai điểm ghi (++).

* Đánh giá mức độ nặng nhẹ của từng triệu chứng cai và chung của hội chứng cai theo tỷ lệ % của TSĐ đạt được/TSĐ tối đa. Cụ thể chúng tôi chia ra 4 mức độ như sau:

- Nặng                           từ 76 - 100%                TSĐ tối đa

- Vừa                             từ 51 - 75%                  TSĐ tối đa

- Nhẹ                             từ 26 - 50%                  TSĐ tối đa

- Rất nhẹ                        từ 0 - 25%                    TSĐ tối đa

3.3.8. Đánh giá toàn trạng

+ Theo dõi toàn trạng bệnh nhân: Mạch, nhiệt độ, huyết áp

+ Tình trạng cân nặng: Khi vào và khi ra.

3.3,9. Đánh giá tác dụng không mong muốn của thuốc qua các mức độ:

- Không xuất hiện                                                                  : 0 điểm

- Có tác dụng phụ nhưng không phải điều trị                           : 1 điểm

- Có tác dụng phụ phải điều trị                                               : 2 điểm

- Có tác dụng phụ nghiêm trọng phải điều trị tích cực    : 3 điểm

3.3.10. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả điều trị

  Kết quả điều trị được chia làm 4 loại:

 

Loại chỉ tiêu

A (Tốt)

B (Khá)

C (Trung Bình)

D (Kém)

Thời gian cắt cơn nghiện

2 - 3 ngày

4 - 5 ngày

6 - 7 ngày

> 7 ngày

Diễn biến hội chứng cai

Âm tính

Âm tính

Âm tính

Âm tính

XN Opiates nước tiểu

Âm tính

Âm tính

Âm tính

Âm tính

 

3.4.3. Thuốc Heantos 4 dùng trong nghiên cứu.

Thuốc Heantos 4 dùng trong nghiên cứu  này được sản xuất tại Công ty cổ phần dược phẩm Nam Hà ngày sản xuất 10 tháng 10 năm 2008, có số lô 08102, hạn dùng tháng 4 năm 2011. Thuốc có hình thức là viên nang cứng loại 500 mg một nửa màu đỏ, một  nửa màu vàng trong chứa bột thuốc màu nâu đen mùi thơm dược liệu, vị đắng. Thuốc có độ tan rã không quá 30 phút, độ đồng đều về khối lượng ± 7,5%, độ ẩm không quá 9,0%, độ nhiễm khuẩn đạt yêu cầu của Dược điển Việt Nam 3 mức 4, phụ lục 10.7. Độc tính bất thường đạt yêu cầu của Dược điển Việt Nam 3, phụ lục 10.6. Bột thuốc thể hiện phép thử định tính của các vị thuốc Đảng sâm, Cam thảo, Bình vôi, Táo nhân. Hàm lượng Rotundin trong mỗi viên thuốc dao động từ 2,0mg đến 3,0mg. Lô thuốc nghiên cứu đã được Bộ môn Dược lý- Trường Đại học Y Hà Nội kiểm tra và xác nhận đạt yêu cầu về tiêu chuẩn cơ sở.

3.4.4. Phác đồ dùng thuốc Heantos 4:

Là phác đồ I trong nghiên cứu giai đoạn I đã được Hội đồng KH - CN Bộ Y tế họp đánh giá nghiệm thu ngày 27 tháng 3 năm 2007 lựa chọn và Bộ Y Tế đã có công văn số 2024/BYT - K2ĐT ngày 3 tháng 4 năm 2007 cho phép sử dụng trong nghiên cứu giai đoạn II [4]. Cụ thể như sau:   

- Ngày thứ nhất (24 giờ kể từ lần dùng ma tuý cuối cùng).: Uống 2 lần mỗi lần từ 6- 7 viên (tuỳ theo tình trạng bệnh nhân). Khoảng cách giữa 2 lần uống là từ 6- 8 giờ.Uống lần đầu khi bệnh nhân xuất hiện hội chứng cai.

- Ngày thứ 2 và thứ 3: uống 2 lần vào buổi trưa và buổi tối sau khi ăn, mỗi lần từ 6- 7 viên.

- Ngày thứ 4 đến ngày thứ 7: uống 1 lần từ 6- 7 viên vào buổi tối trước khi đi ngủ.

(Có hồ sơ sản phẩm nghiên cứu Heantos 4 kèm theo - phụ lục số 2)

3.5. Đảm bảo dữ liệu nghiên cứu

3.5.1. Các bước tiến hành

- Thiết kế hồ sơ nghiên cứu, các chỉ số theo dõi đánh giá diễn biến bệnh và kết quả điều trị đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu.

- Tổ chức tập huấn:

+ Tập huấn cho nhóm bác sỹ về phương pháp sử dụng thuốc Heantos 4, cách ghi chép hồ sơ, cách theo dõi đánh giá diễn biến của hội chứng cai trên  lâm sàng và tác dụng phụ nếu có, cách xử trí cấp cứu người bệnh…

+ Tập huấn cho điều dưỡng và các nhân viên y tế khác về cách theo dõi các chỉ số sinh lý mạch, nhiệt độ, huyết áp…theo dõi tình trạng ăn, ngủ và các diễn biến sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân, cách chăm sóc bệnh nhân và cách ghi chép hồ sơ bệnh án phần theo dõi bệnh nhân của các điều dưỡng viên.

3.5.2. Quy trình tiếp nhận, điều trị nghiên cứu

- Những trường hợp có đơn tự nguyện tham gia nghiên cứu và đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn bệnh nhân nghiên cứu.

- Tổ chức đăng ký tiếp xúc từng bệnh nhân nghiện ma túy xin vào viện.

- Bệnh nhân nghiên cứu được đón tiếp tại 1 phòng riêng, được giải thích về ý nghĩa công việc, quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia vào nghiên cứu, được phổ biến nội quy, thay toàn bộ tư trang và kiểm tra loại trừ các chất ma tuý mang theo. Sau đó mới chuyển đến phòng điều trị.

- Các bác sĩ thăm khám lâm sàng, làm hồ sơ bệnh án.

- Tiến hành xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma tuý, xét nghiệm máu, điện tim, test tâm lý lần 1 ở ngày đầu tiên vào viện.

- Bệnh nhân được uống thuốc khi bắt đầu có triệu chứng cai. Tiếp đó hàng ngày bệnh nhân uống thuốc theo phác đồ, bác sĩ thăm khám, theo dõi diễn biến bệnh, ghi chép đầy đủ vào hồ sơ, giải quyết các vấn đề nảy sinh.

   - Quá trình điều trị, hai ngày một lần xét nghiệm nước tiểu để kiểm tra chất ma tuý.

- Các xét nghiệm máu, điện tim, test tâm lý lần 2 được làm vào ngày thứ 7 trước khi ra viện.

- Hàng ngày các bác sĩ điều trị thăm khám bệnh nhân và ghi chép hồ sơ bệnh án ít nhất 5 lần đánh giá cho điểm các triệu chứng cai đã xuất hiện ở từng bệnh nhân theo bảng đánh giá hội chứng cai (phụ lục 18).

- Sau 7 ngày bệnh nhân ra viện tiến hành tổng kết hồ sơ bệnh án, ghi chép những thông tin ghi nhận được vào mẫu hồ sơ chung (phụ lục 14)

3.5.3. Xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma túy

Bệnh nhân được lấy nước tiểu để xét nghiệm tìm opiats 4 lần trong quá trình điều trị: Lần đầu tiên khi bệnh nhân vào viện, những lần sau vào buổi sáng các ngày thứ 3, 5, 7 của quá trình điều trị.

Bệnh nhân được lấy nước tiểu và xét nghiệm tìm chất ma túy bằng que thử nhanh của Mỹ ngay tại nơi điều trị. Việc lấy nước tiểu do các điều dưỡng viên thực hiện, thử và đọc kết quả do bác sỹ thực hiện. Trong trường hợp nghi ngờ xét nghiệm lại bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng. Xét nghiệm được tiến hành tại Khoa Xét nghiệm Bệnh viện Tâm thần Trung ương I.

3.5.4. Các xét nghiệm sinh hóa máu, huyết học

Tiến hành các xét nghiệm sinh hóa máu, huyết học: công thức máu, máu lắng, hemoglobin, hematocrit, SGOT, SGPT, bilirubin, urê, creatinin, protein toàn phần 2 lần trong quá trình nghiên cứu. Lần đầu khi bệnh nhân vào viện. Lần 2 vào ngày thứ 7 trước khi bệnh nhân ra viện.

Tiến hành các xét nghiệm bằng máy phân tích sinh hóa lâm sàng Human Lyzer của hãng Human (Cộng hòa Liên bang Đức) sản xuất năm 2000 theo tiêu chuẩn ISO 9001.

Chỉ đưa vào nghiên cứu những bệnh nhân có chỉ số huyết học lần đầu với (số lượng hồng cầu, hemoglobin, số lượng bạch cầu...) trong giới hạn bình thường, chỉ số men gan (SGOT, SGPT) không cao quá 3 lần giới hạn cho phép, chỉ số về chức năng thận (urê, creatinin huyết) không quá cao.

So sánh các chỉ số sinh hóa, huyết học trước và sau điều trị để đánh giá:

- ảnh hưởng của thuốc đến chức năng tạo huyết, miễn dịch

- ảnh hưởng của thuốc đến chức năng gan, thận, thể trạng chung.

3.5.5. Xét nghiệm phân tích sinh hóa nước tiểu

Xét nghiệm phân tích sinh hóa nước tiểu 2 lần trong quá trình điều trị. Lần đầu khi vào viện, lần 2 ở ngày thứ 7.

Dùng máy phân tích nước tiểu Cliniter loại 10 thông số do hãng Bayer sản xuất năm 1996.

3.5.6.  Điện tâm đồ

          Bệnh nhân  được làm điện tim 2 lần, lần đầu trước khi điều trị và lần 2 sau khi đã điều trị  7 ngày. Điện tim ddược làm bằng máy điện tim Model 6851 của hãng Nihon Kohden Nhật bản do các cán bộ khoa Chẩn đoán chức năng Bệnh viện Tâm thần TWI thực hiện.

3.5.7.  Các test tâm lý

 Bệnh nhân được làm các test tâm lý Beck, Zung 2 lần ở ngày thứ 1 ngay sau khi bệnh nhân vào viện và ngày thứ 7 trước khi ra viện. Các test này đã được chuẩn hóa quốc gia.

 Nghiệm pháp Beck (Beck depression Inventory): Đánh giá mức độ trầm cảm, bao gồm 21 đề mục đánh số từ 1 - 21, ở mỗi đề mục có ghi 4 tình huống để người đọc nhận cảm về trạng thái của mình. Người bệnh sau khi đọc cẩn thận tất cả các tình huống có thể và chọn ra một tình huống mô tả gần giống như tình trạng mà bệnh nhân cảm thấy trong một tuần qua kể cả hôm nay. Người bệnh phải được bảo đảm chắc chắn là đọc tất cả các câu phát biểu trước khi lựa chọn. ở mỗi đề mục người bệnh đánh dấu chéo ở đầu câu phát biểu mà họ đã chọn (không để sót đề mục nào).

Các mức độ trầm cảm được đánh giá qua 3 mức độ theo các mức điểm như sau (chuẩn hóa ở Việt Nam theo Viện Tâm lý giáo dục):

+ Tổng số điểm 3 x 21 = 63

+ Bình thường £ 13

+ Trầm cảm nhẹ 14 - 19

+ Trầm cảm trung bình 20-29.

+ Trầm cảm nặng > 30

*  Thang tự đánh giá lo âu (Self Rating Anxiety Scale) của W.W.K.Zung: Nghiệm pháp này gồm 20 câu phát biểu đánh số từ 1 - 20. Mỗi câu phát biểu được đánh giá theo 4 mức độ thời gian mà người bệnh cảm nhận được. Sau khi đọc cẩn thận, người bệnh tiến hành trong thời gian 3 phút, đánh dấu chéo vào 1 trong 4 ô chia mức độ thời gian mà bệnh nhân cảm nhận qua mỗi câu phát biểu. Điểm cũng được tính từ 1 - 4 điểm cho mỗi câu phát biểu. Sau đó cộng cả 4 cột điểm của 20 câu cho kết quả đánh giá như sau (chuẩn hóa theo Viện Tâm lý - giáo dục):

Tổng số 20 x 4 = 80 điểm

- Có lo âu ³ 50% (³ 40 điểm)

- Không có lo âu  < 50% (< 40 điểm)

3.5.8. Đảm bảo về đạo đức trong nghiên cứu.

   a. Quyền của đối tượng tham gia nghiên cứu.

- Đối tượng tham gia nghiên cứu được thông tin đầy đủ về mục đích, yêu cầu, nội dung của nghiên cứu và các quy trình nghiên cứu cũng như các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình nghiên cứu. Đối tượng tham gia nghiên cứu cũng được đảm bảo rằng khi có yêu cầu những kết quả về điều trị, xét nghiệm sẽ được thông báo một cách trung thực cho cá nhân hoặc cho người được ủy quyền.

- Đối tượng tham gia nghiên cứu được toàn quyền lựa chọn có hoặc không tham gia vào nghiên cứu mà không phải chịu bất kỳ một sự ép buộc nào. Chỉ những đối tượng có đơn tình nguyện xin tham gia nghiên cứu mới được khám tuyển chọn nếu đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu.

- Đối tượng nghiên cứu có toàn quyền lựa chọn có tiếp tục việc tham gia điều trị nghiên cứu nữa hay không. Đối tượng tham gia nghiên cứu được đảm bảo rằng có thể rút lui khỏi nghiên cứu ở bất kỳ thời điểm nào mà không phải chịu bất cứ một sự phiền hà nào miễn sao sự rút lui đó không ảnh h­ưởng đến sự an toàn cho cá nhân họ.

- Bệnh nhân nghiên cứu được khám bệnh, chăm sóc theo dõi và uống thuốc miễn phí trong suốt thời gian tham gia nghiên cứu.

   b. Đảm bảo bí mật riêng tư.

Đối tượng nghiên cứu cũng đ­ược đảm bảo rằng các bí mật riêng t­ư của bản thân, của việc tham gia vào nghiên cứu, cũng nh­ư  các kết quả về điều trị, xét nghiệm trong quá trình nghiên cứu sẽ đ­ược giữ kín. Chỉ có những nghiên cứu viên chính, những thành viên của đoàn giám sát Bộ Y tế, những thành viên của đoàn giám sát độc lập và những thành viên của Hội đồng khoa học nghiệm thu đề tài được quyền tiếp cận những thông tin trên. . Để đảm bảo bí mật riêng t­ư, mỗi đối tượng nghiên cứu sẽ được nhà nghiên cứu cấp một mã số và trong trường hợp đối tượng cần bí mật danh tính thì trên hồ sơ nghiên cứu, các phiếu xét nghiệm hay bảng phỏng vấn tâm lý sẽ chỉ ghi mã số đó mà không có bất cứ một thông tin cá nhân nào khác để có thể nhận dạng đối t­ượng đã tham gia nghiên cứu.

   c. Bảo vệ đối tượng nghiên cứu.

- Trong thời gian tham gia nghiên cứu nếu bệnh nhân có vấn đề về sức khỏe hoặc thuốc nghiên cứu có tác dụng phụ nghiêm trọng sẽ được xem xét và chuyển phương pháp thích hợp đảm bảo cho bệnh nhân cắt cơn cai nghiện một cách an toàn.

- Trong trường hợp đối tượng nghiên cứu xin rút lui, nghiên cứu viên chính sẽ xem xét nếu đối tượng đang trong cơn bệnh việc rút lui đó có thể ảnh hưởng đến tính mạng của họ, trước tiên phải tìm cách giữ đối tượng ở lại điều trị cho đến khi đối tượng ra khỏi tình trạng nguy hiểm đó rồi  sau mới giải quyết theo nguyện vọng của đối tượng.

- Trong trường hợp đối tượng nghiên cứu gặp tai biến nghiêm trọng trong quá trình điều trị nghiên cứu, đối tượng sẽ được chạy chữa cho đến khi bình phục hoàn toàn. Mọi chi phí điều trị trong trường hợp này sẽ do cơ quan đặt hàng chi trả.

  d. Nghĩa vụ của đối tượng tham gia nghiên cứu.

Những ng­ười tham gia vào nghiên cứu có nghĩa vụ thực hiện theo các quy trình nghiên cứu đã nêu ở trên và tuân thủ các quy định của cơ sở nghiên cứu. Hợp tác với các y tá, bác sỹ trong việc thăm khám bệnh, uống thuốc, lấy mẫu bệnh phẩm và làm các xét nghiệm. Cung cấp trung thực các thông tin về diễn biến bệnh tình của mình. Tôn trọng các nhân viên làm việc tại cơ sở nghiên cứu, không được làm h­ư hỏng những tài sản mà cơ sở nghiên cứu đã trang bị. Không tiết lộ các thông tin về nghiên cứu cho người khác biết.

   e. Quyền và trách nhiệm của nghiên cứu viên.

- Nghiên cứu viên có quyền lựa chọn đối tượng đưa vào nghiên cứu, quyết định dừng hoặc tiếp tục nghiên cứu trong những trường hợp cụ thể. Được trả thù lao ở những phần việc tham gia cụ thể.

- Nghiên cứu viên có nhiệm vụ khai thác thông tin, đảm bảo tính trung thực của thông tin và kết quả nghiên cứu. Bảo quản, giữ bí mật về hồ sơ nghiên cứu, diễn biến tình trạng bệnh và những thông tin cá nhân khác của đối tượng nghiên cứu.

3.6. Phương pháp thống kê và xác định cỡ mẫu

3.6.1. Cỡ mẫu nghiên cứu:  

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức:

Trong đó:

- p: tỷ lệ tác dụng phụ không mong muốn của nhóm ATK trong nghiên cứu giai đoạn II (p = 0,06)

- Z1-a/2 = 1,96 (với a = 0,05)

- e = 0,03 (sai số tối thiểu cho phép)

Thay các giá trị vào, có:

              n = (1,96)2 x = 241 (bệnh nhân)

3.6.2. Phương pháp thống kê và xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng máy vi tính với phần mềm Stata 10.0

1. Tính các số trung bình thực nghiệm:

2. Tính độ lệch chuẩn thực nghiệm:

   3. Tính phương sai thực nghiệm:

4. So sánh 2 số trung bình quan sát bằng test Student

 

3.7. Những thay đổi khi thực hiện nghiên cứu và phân tích theo kế hoạch

   Do những vướng mắc về thủ tục hành chính ( phải xin phép Sở Y tế Hà Nội, chi cục phòng chống tệ nạn xã hội Hà Nội) nên việc nghiên cứu tại Trung tâm GD - LĐ - XH số 1 Hà Nội được tiến hành chậm hơn so với dự kiến ảnh hưởng đến tiến độ chung của đề tài. Cơ quan chủ trì đề tài đã có công văn số 93/BV-BC ngày 11/11/2009  xin gia hạn thời gian thực hiện đề tài và đã được Bộ Y tế cho phép ( công văn số 8999/BYT-K2ĐT ngày 30/11/2009).

4. Đối tượng tham gia nghiên cứu

4.1. tình hình bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Đối tượng tham gia nghiên cứu gồm 255 bệnh nhân nghiện ma túy nhóm opiats vào điều trị cắt cơn nghiện tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh, Trung tâm GD- L Đ - XH số 1 Hà Nội và Bệnh viện Tâm thần TWI trong khoảng thời gian từ ngày 20 tháng 11 năm 2008 đến ngày 28 tháng 12 năm 2009.

Cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu theo tính toán là 241 bệnh nhân, dự kiến sẽ thực hiện điều trị nghiên cứu cho 250 bệnh nhân. Số bệnh nhân nghiên cứu đã được phân công cho các địa điểm nghiên cứu như sau:

- Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh được phân điều trị 50 bệnh nhân, thực tế đã thực hiện được 51 bệnh nhân.

- Trung tâm GD- LĐ- XH số 1 Hà Nội được phân điều trị 50 bệnh nhân, thực tế đã thực hiện được 54 bệnh nhân.

- Bệnh viện Tâm thần TWI được phân điều trị 150 bệnh nhân, thực tế thực hiện 150 bệnh nhân.

Như vậy thực tế đã tiến hành điều trị nghiên cứu được 255 bệnh nhân, nhiều hơn cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu là 14 bệnh nhân.

4.2. Chia nhóm bệnh nhân

Chia nhóm theo địa điểm nghiên cứu có:

- Nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh gọi tắt là nhóm Bắc Ninh

- Nhóm điều trị tại Trung tâm GD - LĐ - XH số 1 Hà Nội gọi là nhóm Ba Vì

- Nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI gọi tắt là nhóm Thường Tín

Chia nhóm theo tiêu chuẩn đánh giá kết quả điều trị có:

- Nhóm điều trị Heantos 4 thành công gọi tắt là nhóm thành công

- Nhóm điều trị Heantos 4 không thành công gọi tắt là nhóm không thành công

4.3. những sai số khác so với đề cương

Không có

5. Đánh giá hiệu quả

5.1. Dữ liệu phân tích

Tổng cộng số bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu ở cả 3 địa điểm là 255 bệnh nhân.

- Nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh là 51 bệnh nhân.

- Nhóm điều trị tại Trung tâm GD - LĐ - XH số 1 Hà Nội là 54 bệnh nhân.

- Nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI là 150 bệnh nhân.

5.2. Đặc điểm nhân chủng học và các đặc điểm cơ bản khác

   Bảng 1: Lứa tuổi ở các nhóm bệnh nhân.

Lứa tuổi

Bắc Ninh

Ba Vì

Thường Tín

Chung

n

%

n

%

n

%

TC

KTC

≤ 20

1

1.96

2

3.70

2

1.33

4

1

21- 30

13

25.49

19

35.19

77

51.33

101

8

31- 40

25

49.02

24

44.44

51

34.00

90

10

≥ 41

12

23.53

9

16.67

20

13.34

35

6

51

100

54

100

150

100

230

25

P

P< 0,05

P > 0,05

TB

35,57±7,67

33,76±7,95

32,21±7,22

33,06

34,52

 

                        Pbn-tt < 0,01

Ptc-ktc > 0,05

Đa số bệnh nhân  ở các nhóm nghiên cứu có độ tuổi từ  21- 40 tuổi.

Bảng 2: Giới tính ở các nhóm bệnh nhân.

Giới tính

 Bắc Ninh

Ba Vì

Thường Tín

Chung

n

%

n

%

n

%

TC

KTC

Nam

51

100

54

100

144

96

124

25

Nữ

0

-

0

-

6

4

6

0

Tổng số

51

100

54

100

150

100

230

25

 

P > 0,05

P > 0,05

 

Bệnh nhân trong các nhóm nghiên cứu phần lớn là nam giới.

Bảng 3: Trình độ văn hóa ở các nhóm bệnh nhân.

Trình độ

 văn hóa

 Bắc Ninh

Ba Vì

Thường Tín

Chung

n

%

n

%

n

%

TC

KTC

Cấp I

5

9.80

3

5.56

4

2.67

11

1

Cấp II

27

52.94

27

50.00

48

32.00

91

11

Cấp III

19

37.26

24

44.44

96

64.00

126

13

Tc CĐ - ĐH

0

0

0

0.00

2

1.33

2

0

Tổng số

51

100

54

100

150

100

230

25

 

P < 0,01

P > 0,05

Đa số bệnh nhân ở các nhóm nghiên cứu có trình độ văn hoá cấp 2 và cấp 3.

 

 

Bảng 4: Nghề nghiệp của các nhóm bệnh nhân.

Nghề nghiệp

 Bắc Ninh

Ba Vì

Thường Tín

Chung

n

%

n

%

n

%

TC

KTC

Không nghề

23

45.10

42

77.78

97

64.67

151

11

Lái xe

7

13.73

5

9.26

12

8.00

22

2

Kinh doanh

5

9.80

2

3.70

4

2.67

11

0

Làm ruộng

13

25.49

0

-

9

6.00

18

4

Thợ tự do

3

5.88

5

9.26

13

8.67

15

6

Công nhân

0

-

0

-

10

6.66

9

1

Nghề khác

0

-

0

-

5

3.33

4

1

Tổng số

51

100

54

100

150

100

230

25

 

P< 0,001

P< 0,05

 

          Đa số bệnh nhân ở các nhóm là không có nghề nghiệp ổn định.

 

Bảng 5. Thời gian nghiện ma túy ở các nhóm bệnh nhân.

Thời gian nghiện

 Bắc Ninh

Ba Vì

Thường Tín

Chung

n

%

n

%

n

%

TC

KTC

< 1 năm

1

1.96

5

9.26

5

3.33

9

2

1- 5 năm

21

41.18

20

37.04

68

45.33

101

8

6- 10 năm

22

43.14

21

38.89

46

30.67

81

8

> 10 năm

7

13.72

8

14.81

31

20.67

39

7

Tổng số

51

100

54

100

150

100

230

25

 

P > 0,05

P > 0,05

          Đa số bệnh nhân nghiên cứu đã có thời gian nghiện từ 1-5năm và từ 6 -10 năm.

 

Bảng 6. Số lần cai ở các nhóm bệnh nhân.

Số lần cai

Bắc Ninh

Ba Vì

Thường Tín

Chung

n

%

n

%

n

%

TC

KTC

0 lần

13

25,49

11

20,37

12

8,00

36

2

1 lần

12

23,53

10

18,52

15

10,00

37

7

2 lần

6

11,76

13

24,07

38

25,33

57

7

3 lần

7

13,73

5

9,26

19

12,67

31

2

≥ 4 lần

13

25,49

15

27,78

66

44,00

94

7

Tổng số

51

100

54

100

150

100

230

25

 

P < 0,01

P > 0,05

Đa số bệnh nhân ở các nhóm đã cai nghiện từ 1- 2 lần trở lên.

 

Bảng 7. Loại ma túy sử dụng ở các nhóm bệnh nhân.

Cách dùng

Bắc Ninh

Ba Vì

Thường Tín

Chung

n

%

n

%

n

%

TC

KTC

Heroin

43

84.31

50

92.59

143

95.33

211

25

H+Novocain

5

9.80

1

1.85

3

2.00

9

0

H+Dimedrol

3

5.89

3

5.56

0

-

8

0

H+pipolphen

0

-

0

-

3

2.00

3

0

H+Hồng phiến

0

-

0

-

1

0.67

1

0

Tổng số

51

100

54

100

150

100

230

25

 

P< 0,05

P > 0,05

Đa số bệnh nhân ở các nhóm sử dụng heroin đơn thuần

 

Bảng 8. Cách thức sử dụng ma túy ở các nhóm bệnh nhân.

Cách dùng

Bắc Ninh

Ba Vì

Thường Tín

Chung

n

%

n

%

n

%

TC

KTC

Hút

10

19.61

13

24.07

58

38.67

70

11

Chích

31

60.78

20

37.04

75

50.00

113

13

Hút + Chích

10

19.61

21

38.89

17

11.33

47

1

Tổng số

51

100

54

100

150

100

230

25

 

P <  0,001

P > 0,05

           Đa số bệnh nhân ở các nhóm sử dụng ma tuý bằng cách tiêm chích tĩnh mạch hoặc vừa hút vừa chích.

 

Bảng 9. Số lần sử dụng ma túy  trong ngày ở các nhóm bệnh nhân.

Số lần sử dụng

Bắc Ninh

Ba Vì

Thường Tín

Chung

n

%

n

%

n

%

TC

KTC

1 lần

3

5,88

0

-

8

5.33

11

0

2 lần

20

39,22

3

5.56

41

27.33

54

10

3 lần

15

29,41

35

64.81

61

40.67

100

11

4 lần

10

19,61

14

25.93

24

16.00

45

3

≥  5 lần

3

5,88

2

3.70

16

10.67

20

1

Tổng số

51

100

54

100

150

100

230

25

 

P < 0,001

P > 0,05

Đa số bệnh nhân ở các nhóm sử dụng ma túy từ 2 lần trở lên trong ngày.

 

Bảng 10. Số tiền chi tiêu cho ma túy trong ngày ở các nhóm bệnh nhân.

Số tiền chi cho ma túy

 Bắc Ninh

Ba Vì

Thường Tín

Chung

n

%

n

%

n

%

TC

KTC

< 100.000đ

11

21.57

3

5,56

7

4.67

20

1

1-500.000đ

38

74.51

50

92,59

129

86.00

193

24

>500.000đ

2

3.92

1

1,85

14

9.33

17

0

Tổng số

51

100

54

100

150

100

230

25

 

P< 0,01

P > 0,05

   Đa số bệnh nhân ở các nhóm chi tiêu cho ma túy hàng ngày từ 100.000đ - 500.000đ.

 

Bảng 11. Phân bố bệnh nhân theo mức độ nghiện của Himmelbach.

Mức độ nghiện

Bắc Ninh

Ba Vì

Thường Tín

Chung

n

%

n

%

n

%

TC

  TC

Nhẹ

1

1.96

0

0

1

0.67

2

0

Trung bình

29

56.86

15

27,78

20

13.33

64

0

Nặng

21

41,18

39

72,22

129

86.00

189

25

Tổng số

51

100

54

100

150

100

230

25

 

P< 0,001

P< 0,05

      Nhìn chung đa số bệnh nhân ở các nhóm nghiện ma tuý ở mức độ nặng và trung bình.

 

5.3. Xác định sự phù hợp của thuốc

5.4. Hiệu quả điều trị và bảng số liệu

i) Phân tích hiệu quả

Bảng 16. Kết quả điều trị ở các nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

 

Bắc Ninh

Ba Vì

Thường Tín

Chung

n = 51

n = 54

n = 50

n = 255

Thành công

n

46

49

135

230

%

90,20

90,74

90,00

90,19

Không thành công

Đủ thời gian

n

4

5

10

19

%

7,84

9,26

6,67

7,46

Về sớm opiats (-)

n

1

0

3

4

%

1,96

0

2,00

1,57

Về sớm opiats (+)

n

0

0

2

2

%

0

0

1,33

0,78

Tổng

100

100

100

100

           

Kết quả nghiên cứu cho thấy: đa số bệnh nhân ở các nhóm điều trị Heantos 4 thành công, tỷ lệ này cao nhất ở nhóm điều trị tại Ba Vì ( 90,74% ), tiếp đến là nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh (90,20%) và tại Bệnh viện Tâm thần TWI ( 90%). Tỷ lệ điều trị Heantos 4 thành công chung cho cả 3 địa điểm nghiên cứu là 90,19%, chỉ một số ít bệnh nhân có kết quả không thành công theo tiêu chuẩn đề ra trong đề cương và tỷ lệ chung cho cả 3 nơi là 9,81%. Tuy nhiên khi xem xét kỹ số bệnh nhân điều trị Heantos 4 không thành công chúng tôi thấy tất cả số bệnh nhân này đều được dùng thêm một loại thuốc khác là diazepam với những biệt dược khác  nhau như seduxen, mekoluxen… Như vậy đây thực chất là nhóm có phối hợp thêm diazepam. Số bệnh nhân xin về sớm khi điều trị bằng thuốc Heantos 4 cũng ở trong nhóm được phối hợp thêm diazepam.

Xếp loại kết quả điều trị theo tiêu chuẩn đã ghi trong đề cương, chúng tôi thấy ở số bệnh nhân sử dụng Heantos 4 đơn thuần điều trị đủ liệu trình tại cả 3 địa điểm nghiên cứu đa số đạt loại tốt (28,26% - 38,78%)  và khá (57,04%- 60,87%).

Nhóm bệnh nhân điều trị Heantos 4 không thành công (những bệnh nhân có dùng thêm thuốc khác) có 4 bệnh nhân đạt loại tốt, 15 bệnh nhân đạt loại khá, 4 bệnh nhân trung bình và 2 bệnh nhân đạt loại kém. So sánh số liệu xếp loại kết quả điều trị giữa nhóm điều trị Heantos 4 thành công và nhóm không thành công, chúng tôi thấy có sự khác biệt với p < 0,05. Có thể là do tất cả số bệnh nhân nhóm không thành công đều nghiện ma túy ở mức độ nặng, hội chứng cai diễn ra lại rầm rộ nên dù được can thiệp thêm thuốc  khác vẫn có 6 bệnh nhân xin về sớm với nhiều lý do khác nhau. Trong số này có những bệnh nhân khi về xét nghiệm nước tiểu tìm opiats đã âm tính nhưng hội chứng cai vẫn còn và do không còn điều kiện theo dõi được nữa nên chúng tôi để ở loại trung bình.

iv) Liều thuốc, nồng độ thuốc và mối quan hệ với đáp ứng.

     Đa số bệnh nhân uống thuốc ở liều 7 viên/ lần uống (98,69%), chỉ có 3 bệnh nhân (1,31%) uống liều 6 viên/ lần uống.

v) Tương tác thuốc - thuốc ( Heantos 4 - Diazepam).

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 25 bệnh nhân được dùng thêm diazepam (seduxen, mekoluxen), trong đó có 6 bệnh nhân xin về sớm không điều trị đủ liệu trình và 19 bệnh nhân điều trị đủ liệu trình. Những trường hợp này theo tiêu chuẩn của đề cương được xếp vào nhóm điều trị Heantos 4 không thành công. Xem xét việc phối hợp thêm diazepam ở nhóm bệnh nhân này chúng tôi thấy:

Ngày thứ nhất có 3 bệnh nhân bằng 12% tổng số bệnh nhân trong nhóm được dùng thêm diazepam, mỗi bệnh nhân dùng 1 lần, liều 2 viên.

Ngày thứ 2 tất cả các bệnh nhân trong nhóm đều được dùng thêm diazepam, trong đó 7 bệnh nhân (28%) dùng 1 lần với tổng liều trong ngày là 2 viên. Có 18 bệnh nhân (72%) dùng 2 lần, trong đó 11 bệnh nhân (52%) dùng liều 2 viên/ lần với tổng liều trong ngày là 4 viên và 5 bệnh nhân (20%) một lần dùng liều 2 viên và 1 lần dùng liều 3 viên, tổng liều trong ngày là 5 viên.

Ngày thứ 3 có 22/ 24 bệnh nhân được dùng diazepam bằng 91,67% số bệnh nhân còn điều trị trong ngày. Có 7 bệnh nhân (29,17%) dùng 1 lần với liều 2 viên và 15 bệnh nhân (68,18%) dùng 2 lần với liều từ 2-3 viên lần.

Từ ngày thứ 4 trở đi không có bệnh nhân nào trong nhóm phải dùng thêm diazepam.

Như vậy, có thể thấy việc sử dụng diazepam ở nhóm bệnh nhân này là không nhiều, mỗi bệnh nhân chỉ  dùng từ 1-2 lần, mỗi lần từ 2-3 viên, tổng liều trong ngày chỉ từ 2- 5 viên, sử dụng chủ yếu ở các ngày thứ 2 và thứ 3 là những ngày mà hội chứng cai diễn ra nặng nhất. Nếu so sánh với liều diazepam được phép sử dụng trong phác đồ ATK mà Bộ Y tế đã ban hành ( ở ngày thứ 2 và thứ 3 có thể dùng đến 4-5 lần, mỗi lần từ 4-5 viên, tổng liều trong ngày có thể tới 20- 25 viên) thì liều diazepam đã dùng ở nhóm bệnh nhân này là không đáng kể [1]. Với việc phối hợp thêm những liều nhỏ diazepam ở những ngày cao điểm nhất của hội chứng cai đã giúp cho 19/25 bệnh nhân trong nhóm ở lại điều trị đến hết liệu trình. Điều này cần được ghi nhận là một trong những thành công của thuốc Heantos 4 vì việc phối hợp Heantos 4 với diazepam đã giúp giảm đáng kể lượng diazepam và cũng không cần dùng thêm các thuốc ATK khác  tránh được những quan ngại khi sử dụng phác đồ này [11]. Như vậy, với 19 bệnh nhân này cũng cần được coi là những trường hợp thành công có mức độ vì những bệnh nhân này đã theo đuổi điều trị đến hết liệu trình nghiên cứu, khi ra viện đều có kết quả xét nghiệm nước tiểu tìm opiats âm tính, không còn hội chứng cai và thuốc sử dụng chủ yếu vẫn là Heantos 4.

Qua các phân tích trên có thể thấy thuốc Heantos 4 có tác dụng  hiệp đồng với diazepam trong hỗ trợ điều trị hội chứng cai của opiats.

vi) Bảng số liệu

Bảng 13. Liều uống mỗi lần.

Liều uống

Bắc Ninh

Ba Vì

ThườngTín

Chung

n

%

n

%

n

%

n

%

Liều 6 viên/lần uống

0

-

0

-

3

2.22

3

1,31

Liều 7 viên/lần uống

46

100

49

100

132

97.78

227

98,69

Tổng

46

100

49

100

135

100

230

100

 

  Bảng 15. Thuốc diazepam sử dụng thêm ở nhóm 25 bệnh nhân.

Ngày

Số BN

SD

Số lần dùng

Tổng liều trong ngày

1 lần

2 lần

2 viên

4 viên

5 viên

N1

n = 25

3

3

0

3

0

0

%

12,00

12,00

-

12,00

-

-

N2

n =25

25

7

18

7

13

5

%

100

28,0

72,0

28,0

52,0

20,0

N3

n = 24

22

7

15

7

11

4

%

91,67

29,17

68,18

29,17

45,83

16,67

 

vii) Kết luận về hiệu quả

Thuốc Heantos 4 có hiệu quả trong việc hỗ trợ điều trị cắt cơn cai nghiện ma túy nhóm opiats.

6. Đánh giá an toàn

Qua theo dõi trên lâm sàng 255 bệnh nhân nghiện ma tuý nhóm opiats được điều trị cắt cơn nghiện bằng thuốc Heantos 4 chúng tôi không thấy có bệnh nhân nào ở các nhóm nghiên cứu xuất hiện các tác dụng phụ không mong muốn.

7. Mức độ phơi nhiễm

8. Sự cố không mong muốn

Không có trường hợp nào

9. Trường hợp tử vong và các ae nghiêm trọng khác

Không có

10. Đánh giá xét nghiệm

 -  Các chỉ số điện tim ở các nhóm bệnh nhân trước điều trị và sau điều trị đều trong giới hạn bình thường và khác nhau không có ý nghĩa (p > 0,05).

- Các chỉ số xét nghiệm huyết học: nhóm Bắc Ninh và Ba Vì sau điều trị chỉ số máu lắng ở cả 2 thời điểm đều tăng nhẹ, sự khác biệt là rất có ý nghĩa ( p < 0,001), có thể do ảnh hưởng của quá trình vận chuyển bệnh phẩm gây nên. Nhóm Thường Tín chỉ số máu lắng ở cả 2 thời điểm đều giảm nhẹ so với trước điều trị, tuy nhiên khác biệt là không có ý nghĩa (p> 0,05) và vẫn trong giới hạn bình thường. Các chỉ số xét nghiệm huyết học khác vẫn trong giới hạn bình thường và không thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trước và sau điều trị ( p > 0,05 ) ở tất cả các nhóm.

- Các chỉ số xét nghiệm sinh hoá máu ở các nhóm bệnh nhân biến đổi trong giới hạn bình thường, giữa trước và sau điều trị không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05).        

 

- Nhìn chung các chỉ số xét nghiệm sinh hóa nước tiểu ở các nhóm bệnh nhân biến đổi trong giới hạn bình thường, giữa trước và sau điều trị khác biệt không đáng kể ( p > 0,05 ).

-  Kết quả test Beck: sau điều trị tỷ lệ bệnh nhân có kết quả bình thường và trầm cảm nhẹ tăng lên, tỷ lệ có kết quả trầm cảm vừa và trầm cảm nặng giảm đi. Khác biệt giữa trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê ở tất cả các nhóm (p<0,05- 0,001).

-  Kết quả test Zung: sau điều trị tỷ lệ bệnh nhân có lo âu giảm đi, tỷ lệ không có lo âu tăng lên. Khác biệt giữa trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê (p< 0,05- 0,001).

11. Những dấu hiệu sống, những biểu hiện sinh lý và những quan sát khác liên quan đến độ an toàn.

  Không thấy thuốc có ảnh hưởng gì  xấu đến những dấu hiệu sống, những biểu hiện sinh lý ở bệnh nhân.

12. Kết luận về độ an toàn

   Thuốc  Heantos 4 có tính an toàn cao trong hỗ trợ điều trị cắt cơn cai nghiện ma túy nhóm opiats.

13. Thảo luận và kết luận chung.

13.1. Thảo luận

A)  Một số đặc điểm ở các nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

* Tuổi

Đa số bệnh nhân  ở các nhóm nghiên cứu có độ tuổi từ  21- 30 tuổi và 31- 40 tuổi. Lứa tuổi 21- 30 ở nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI có tỷ lệ nhiều nhất (51,33%), tiếp đến là ở nhóm điều trị tại Trung tâm GD - LĐ - XH số 1 Hà Nội (35,19%). Lứa tuổi 31- 40 có tỷ lệ nhiều nhất tại nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh ( 49,02%) và tại Trung tâm GD - LĐ - XH số 1 Hà Nội (44,44%). Khác biệt giữa các nhóm bệnh nhân về tuổi là có ý nghĩa thống kê (p< 0,05). Tuổi TB cao nhất là nhóm điều trị tại Bắc Ninh (35,57±7,67 ), thấp nhất là nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI (32,21±7,22 ), khác biệt về tuổi giữa 2 nhóm có ý nghĩa (p<0,01).

Tuổi trung bình của nhóm điều trị Heantos 4 thành công là 33,06 thấp hơn so với nhóm không thành công (34,52), tuy nhiên sự khác biệt giữa 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê ( p>0,05). Phân bố tuổi giữa 2 nhóm cũng không có ý nghĩa (p>0,05), có thể do số bệnh nhân giữa 2 nhóm quá chênh lệch.

* Giới.

Bệnh nhân trong các nhóm nghiên cứu phần lớn là nam giới, chỉ có 6 bệnh nhân nữ giới ở nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI. Khác biệt giữa các nhóm về giới không có ý nghĩa ( p > 0,05).

*Trình độ văn hoá.

          Đa số bệnh nhân ở các nhóm nghiên cứu có trình độ văn hoá cấp 2 và cấp 3. Tỷ lệ bệnh nhân có trình độ cấp 2 nhiều nhất ở nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh ( 52,94%) và tại Trung tâm GD - LĐ - XH số 1 Hà Nội (50%). Trình độ cấp 3 có tỷ lệ nhiều nhất ở nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI ( 64%). Khác biệt giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê ( p< 0,01).

Giữa nhóm bệnh nhân điều trị Heantos 4 thành công và nhóm không thành công, khác biệt về trình độ văn hóa là không có ý nghĩa (p>0,05).

* Nghề nghiệp ở các nhóm bệnh nhân

          Đa số bệnh nhân ở các nhóm là không có nghề nghiệp ổn định, chiếm tỷ lệ nhiều nhất ở nhóm điều trị tại Trung tâm GD - L Đ - XH số 1 Hà Nội (77,78%), tiếp đến ở nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI (64,67%) và tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh (45,10%). Khác biệt giữa các nhóm rất có ý nghĩa ( p < 0,001).

       Giữa nhóm điều trị Heantos 4 thành công và nhóm không thành công không thấy có sự khác biệt về nghề nghiệp ( p <0,05).

* Về thời gian nghiện ma túy ở các nhóm bệnh nhân

          Đa số bệnh nhân nghiên cứu đã có thời gian nghiện từ 1-5năm và từ 6 -10 năm. Nhóm bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI có tỷ lệ về thời gian nghiện từ 1- 5 năm nhiều nhất (45,33%), tiếp đến là nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh (41,18%), nhóm điều trị tại Ba Vì có tỷ lệ này thấp hơn cả (37,04%). Nhóm bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh có tỷ lệ bệnh nhân nghiện ma túy từ 6-10 năm nhiều nhất (43,14%), tiếp đến là nhóm điều trị tại Ba Vì (38,89%) và nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI (30,67%). Tuy nhiên khác biệt giữa các nhóm không có ý nghĩa (p > 0,05).

     Giữa nhóm điều trị Heantos 4 thành công và nhóm không thành công sự khác biệt về thời gian nghiện cũng không có ý nghĩa (p >0,05).

* Về số lần đã cai ở các nhóm bệnh nhân

Nhóm bệnh nhân điều trị tại Ba Vì có tỷ lệ bệnh nhân chưa cai lần nào nhiều nhất ( 25,49% ), tiếp đến là nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh (20,37%), nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI có tỷ lệ này ít nhất chỉ chiếm có 8% tổng số bệnh nhân điều trị tại đây. Tỷ lệ bệnh nhân đã cai từ 4 lần trở lên ở nhóm bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI là cao nhất (44%), tiếp đến là ở nhóm điều trị tại Ba Vì (27,78%) và nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh (25,49%). Khác  biệt giữa các nhóm về tỷ lệ số lần đã cai ở các nhóm bệnh nhân là có ý nghĩa (p< 0,01).

* Về loại ma túy sử dụng.

Đa số bệnh nhân ở các nhóm sử dụng heroin đơn thuần không pha thêm thuốc gì, một số ít bệnh nhân có pha thêm các thuốc khác như  novocain, dimedrol, pipolphen, hồng phiến… Nhóm bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh có tỷ lệ sử dụng phối hợp thêm thuốc khác với heroin nhiều nhất (9,8% với Novocain, 5,89% với dimedrol). Tiếp đến là nhóm điều trị tại Trung tâm GD- L Đ- XH số 1 Hà Nội (5,56% phối hợp với dimedrol và 1,85% với Novocain). Nhóm bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI có tỷ lệ sử dụng phối hợp ít nhất ( 2% phối hợp với novocain, 2% với pipolphen và 0,67% với hồng phiến). Khác biệt giữa các nhóm có ý nghĩa (p<0,05).

Xem xét sự khác nhau về loại ma túy sử dụng giữa nhóm bệnh nhân điều trị Heantos 4 thành công và nhóm không thành công chúng tôi thấy sự khác biệt giữa 2 nhóm là không có ý nghĩa (p>0,05).

* Về cách thức sử dụng ma túy ở các nhóm bệnh nhân

          Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số bệnh nhân ở các nhóm sử dụng ma tuý bằng cách tiêm chích tĩnh mạch hoặc vừa hút vừa chích. Nhóm bệnh nhân điều trị tại Bắc Ninh có tỷ lệ tiêm chích nhiều nhất ( 60,78%), tiếp đến là ở nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI (50%), nhóm điều trị tại Ba Vì (37,04%). Nhóm điều trị tại Thường Tín có tỷ lệ hút nhiều nhất (38,67%), tiếp đến là nhóm điều trị tại Ba Vì (24,07%), nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh có tỷ lệ bệnh nhân hút đơn thuần ít nhất (19,61%). Khác biệt giữa các nhóm là rất có ý nghĩa (p< 0,001).

          So sánh giữa nhóm điều trị Heantos 4 thành công và nhóm không thành công về cách thức sử dụng ma túy là không có ý nghĩa (p>0,05)

* Về số lần sử dụng ma túy trong ngày ở các nhóm

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy đa số bệnh nhân ở các nhóm sử dụng ma túy từ 2 lần trở lên trong ngày. Sử dụng 2 lần trong ngày nhóm điều trị tại Bắc Ninh có tỷ lệ này nhiều nhất (39,22%),tiếp đến là ở nhóm bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI (27,33%). Sử dụng ma túy 3 lần trong ngày nhóm điều trị tại Ba Vì có tỷ lệ nhiều nhất ( 64,81%), tiếp đến là nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI (40,67%). Sử dụng từ 5 lần trở lên trong ngày nhóm điều trị tại Thường Tín có tỷ lệ nhiều nhất ( 10,67%). Khác biệt giữa các nhóm là rất có ý nghĩa (p< 0,001).

So sánh giữa 2 nhóm điều trị Heantos 4 thành công và không thành công về số lần sử dụng ma túy trong ngày ở bệnh nhân chúng tôi thấy sự khác biệt giữa 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

* Về số tiền chi tiêu cho ma túy hàng ngày.

          Đa số bệnh nhân ở các nhóm chi tiêu cho ma túy hàng ngày từ 100.000 đ - 500.000 đ. Nhóm bệnh nhân điều trị tại Trung tâm GD - LĐ - XH số 1 Hà Nội và tại Bệnh viện Tâm thần TWI có tỷ lệ bệnh nhân chi tiêu cho ma túy hàng ngày từ 100 - 500.000 đ nhiều nhất ( 92,59% và 86%). Nhóm bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh có tỷ lệ bệnh nhân chi tiêu cho ma túy dưới 100.000 đ nhiều nhất (21,57%). Khác biệt giữa các nhóm là có ý nghĩa (p< 0,01).

* Về mức độ nghiện ma túy ở các nhóm bệnh nhân.

          Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số bệnh nhân các nhóm nghiện ma tuý ở mức độ nặng và trung bình, chỉ có 1 bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh và 1 bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI nghiện mức độ nhẹ. Nhóm bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh có tỷ lệ bệnh nhân nghiện mức độ trung bình nhiều nhất ( 56,86%). Các nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI và tại Trung tâm GD - LĐ - XH số 1 Hà Nội có tỷ lệ bệnh nhân nghiện mức độ nặng nhiều nhất ( 86% và 72,22%). Khác biệt giữa các nhóm là rất có ý nghĩa ( P < 0,001 ).

          Tóm lại qua xem xét một số đặc điểm ở các nhóm bệnh nhân nghiện ma túy opiats được điều trị thuốc Heantos 4 tại các địa điểm khác nhau, chúng tôi thấy một vài sự khác biệt giữa các nhóm có thể làm ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Trong đó đáng chú ý là những khác biệt về đặc điểm nghiện ma túy như: mức độ nghiện, số tiền chi tiêu cho ma túy hàng ngày, số lần sử dụng ma túy trong ngày, số lần đã cai, cách thức sử dụng ma túy…sự khác biệt giữa các nhóm bệnh nhân là có ý nghĩa thống kê (p< 0,01- 0,001) ở những chỉ số trên cho thấy dường như những nhóm bệnh nhân điều trị tại Trung tâm GD- LĐ- XH số 1 Hà Nội và tại Bệnh viện Tâm thần TWI có phần nặng hơn so với nhóm bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh.

B) Nhận xét về sử dụng thuốc và kết quả điều trị.

* Về  kết  quả điều trị của thuốc Heantos 4.

Kết quả nghiên cứu cho thấy: đa số bệnh nhân ở các nhóm điều trị Heantos 4 thành công, tỷ lệ này cao nhất ở nhóm điều trị tại Ba Vì ( 90,74% ), tiếp đến là nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh (90,20%) và tại Bệnh viện Tâm thần TWI ( 90%). Tỷ lệ điều trị Heantos 4 thành công chung cho cả 3 địa điểm nghiên cứu là 90,19% ( trong đó đạt loại tốt là 31,74%, khá 57,83%, trung bình 10,43% và không có bệnh nhân xếp loại kém), chỉ một số ít bệnh nhân có kết quả không thành công theo tiêu chuẩn đề ra trong đề cương và tỷ lệ chung cho cả 3 nơi là 9,81%. So sánh kết quả điều trị chung của cả 3 địa điểm nghiên cứu với những kết quả đã đạt được ở của nhóm bệnh nhân dùng Heantos 4 trong nghiên cứu giai đoạn II ( loại tốt 22,58%,  loại khá 67,74%, loại trung bình 9,68% không có bệnh nhân xếp loại kém ) chúng tôi thấy kết quả đạt được ở 2 giai đoạn là tương đương nhau [5], [8].

 Tuy nhiên khi xem xét kỹ số bệnh nhân điều trị Heantos 4 không thành công chúng tôi thấy tất cả số bệnh nhân này đều được dùng thêm một loại thuốc khác là diazepam với những biệt dược khác  nhau như seduxen, mekoluxen…. Số bệnh nhân xin về sớm khi điều trị bằng thuốc Heantos 4 cũng ở trong nhóm được phối hợp thêm diazepam. Tổng cộng có 6 bệnh nhân xin về sớm bằng 2,35% tổng số bệnh nhân nghiện cứu, chủ yếu ở nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI (có 5 bệnh nhân) và ở nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh (có 1 bệnh nhân). Nhóm điều trị tại Trung tâm GD- LĐ- XH số 1 Hà Nội không có bệnh nhân nào xin về sớm. Tìm hiểu lý do xin về sớm ở 6 bệnh nhân này chúng tôi thấy:

- 1 bệnh nhân điều trị đến ngày thứ 3 thì người thân lên xin về vì bố bị tai biến mạch não phải đi bệnh viện cấp cứu, dù kết quả nước tiểu vẫn còn dương tính.

- 1 bệnh nhân điều trị đến ngày thứ 6 thì được chị đón về vì bác ruột mất đột ngột, kết quả nước tiểu ở ngày thứ 5 vẫn còn dương tính.

- 2 bệnh nhân điều trị đến ngày thứ 4 đều đã có kết quả xét nghiệm nước tiểu ở ngày thứ 3 âm tính. Một trường hợp xin về để cưới vợ cho em trai, một được vợ lên xin về để kịp đi kiểm tra, phỏng vấn xin việc. Cả 2 trường hợp này người thân đều cho rằng kết quả xét nghiệm tìm opiats nước tiểu đã (-) như vậy là việc cai nghiện của bệnh nhân đã được thành công.

- 2 bệnh nhân điều trị đến ngày thứ 5 sau khi được biết kết quả xét nghiệm nước tiểu đã âm tính với opiats thì xin về vì còn bận đi làm và cũng cho rằng như thế là mình đã cai được nghiện.

Xếp loại kết quả điều trị theo tiêu chuẩn đã ghi trong đề cương, chúng tôi thấy ở số bệnh nhân sử dụng Heantos 4 đơn thuần điều trị đủ liệu trình tại cả 3 địa điểm nghiên cứu đa số đạt loại tốt và khá, với cả 3 nhóm không thấy bệnh nhân nào có kết quả điều trị đạt loại kém. Nhìn chung kết quả điều trị ở số bệnh nhân điều trị Heantos 4 thành công tại 3 địa điểm nghiên cứu là tương đương nhau, khác biệt giữa các nhóm bệnh nhân là không có ý nghĩa (p>0,05).

Nhóm bệnh nhân điều trị Heantos 4 không thành công (những bệnh nhân có dùng thêm thuốc khác) có 4 bệnh nhân đạt loại tốt, 15 bệnh nhân đạt loại khá, 4 bệnh nhân trung bình và 2 bệnh nhân đạt loại kém. So sánh số liệu xếp loại kết quả điều trị giữa nhóm điều trị Heantos 4 thành công và nhóm không thành công, chúng tôi thấy có sự khác biệt với p < 0,05. Có thể là do tất cả số bệnh nhân nhóm không thành công đều nghiện ma túy ở mức độ nặng, hội chứng cai diễn ra lại rầm rộ nên dù được can thiệp thêm thuốc  khác vẫn có 6 bệnh nhân xin về sớm với nhiều lý do khác nhau. Trong số này có những bệnh nhân khi về xét nghiệm nước tiểu tìm opiats đã âm tính nhưng hội chứng cai vẫn còn và do không còn điều kiện theo dõi được nữa nên chúng tôi để ở loại trung bình.

* Sử dụng thuốc ở nhóm điều trị Heantos 4 thành công.

        Tất cả các bệnh nhân đều được sử dụng thuốc khi bắt đầu có hội chứng cai theo đúng hướng dẫn của đề cương, kết quả nghiên cứu cho thấy:

Ngày thứ nhất, nhóm bệnh nhân điều trị tại Bắc Ninh có tỷ lệ uống thuốc 2 lần cao nhất ( 100%),tiếp đến là nhóm điều trị tại Thường Tín (71,11%). Nhóm điều trị tại Ba Vì, trong 3 ngày đầu có số bệnh nhân uống thuốc 1 lần nhiều nhất (57,14%).

Ngày thứ 2 và ngày thứ 3 tất cả bệnh nhân ở các nhóm đều uống thuốc 2 lần

Từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 7 tất cả bệnh nhân ở các nhóm đều uống thuốc 1 lần vào buổi tối trước khi đi ngủ

    Các nhóm bệnh nhân điều trị tại Bắc Ninh và Ba Vì có 100% số bệnh nhân uống thuốc ở mức liều 7 viên/ lần uống ở tất cả các ngày. Nhóm điều trị tại Thường Tín đa số bệnh nhân (97,78%) uống liều 7 viên/ lần, chỉ có 3 bệnh nhân (2,22%) uống liều 6 viên/ lần. Như vậy có thể thấy ở cả 3 địa điểm nghiên cứu, số bệnh nhân sử dụng Heantos 4 đơn thuần điều trị đủ liệu trình đã được sử dụng thuốc theo đúng phác đồ ghi trong đề cương.

* Sử dụng thuốc ở nhóm điều trị Heatos 4 không thành công.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 25 bệnh nhân được dùng thêm thuốc diazepam, trong đó có 6 bệnh nhân xin về sớm, không điều trị đủ liệu trình nghiên cứu và 19 bệnh nhân điều trị đủ liệu trình. Những trường hợp này theo tiêu chuẩn của đề cương được xếp vào nhóm điều trị Heantos 4 không thành công.

Xem xét việc dùng thuốc Heantos 4 ở nhóm bệnh nhân này chúng tôi thấy: Ngày thứ nhất có 11 bệnh nhân uống thuốc 1 lần (44%) và 14 bệnh nhân uống thuốc 2 lần (56%), tất cả đều uống liều 7 viên/lần uống. Ngày thứ 2 tất cả các bệnh nhân đều được uống thuốc 2 lần với liều 7 viên/ lần uống. Ngày thứ 3 có 1 bệnh nhân xin về sớm, còn lại 24 bệnh nhân tất cả đều được dùng thuốc 2 lần, liều 7 viên/ lần uống. Ngày thứ 4 trừ 1 bệnh nhân xin về sớm còn lại tất cả 23 bệnh nhân đều được uống thuốc 1 lần vào buổi tối, liều 7 viên/ lần uống. Từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 7 trừ số bệnh nhân xin về sớm, số bệnh nhân ở lại điều trị đều được uống thuốc 1 lần vào buổi tối, liều 7 viên/ lần uống. Như vậy, nhìn chung việc sử dụng thuốc Heantos 4 ở nhóm bệnh nhân này đã tuân thủ đúng phác đồ đã ghi trong đề cương.

Thuốc được dùng thêm là những biệt dược của diazepam như seduxen, mekoluxen loại 5 mg/ viên. Xem xét việc phối hợp thêm diazepam ở nhóm bệnh nhân này chúng tôi thấy:

Ngày thứ nhất có 3 bệnh nhân bằng 12% tổng số bệnh nhân trong nhóm được dùng thêm diazepam, mỗi bệnh nhân dùng 1 lần, liều 2 viên.

Ngày thứ 2 tất cả các bệnh nhân trong nhóm đều được dùng thêm diazepam, trong đó 7 bệnh nhân (28%) dùng 1 lần với tổng liều trong ngày là 2 viên. Có 18 bệnh nhân (72%) dùng 2 lần, trong đó 11 bệnh nhân (52%) dùng liều 2 viên/ lần với tổng liều trong ngày là 4 viên và 5 bệnh nhân (20%) một lần dùng liều 2 viên và 1 lần dùng liều 3 viên, tổng liều trong ngày là 5 viên.

Ngày thứ 3 có 22/ 24 bệnh nhân được dùng diazepam bằng 91,67% số bệnh nhân còn điều trị trong ngày. Có 7 bệnh nhân (29,17%) dùng 1 lần với liều 2 viên và 15 bệnh nhân (68,18%) dùng 2 lần với liều từ 2-3 viên lần.

Từ ngày thứ 4 trở đi không có bệnh nhân nào trong nhóm phải dùng thêm diazepam.

Như vậy, có thể thấy việc sử dụng diazepam ở nhóm bệnh nhân này là không nhiều, mỗi bệnh nhân chỉ  dùng từ 1-2 lần, mỗi lần từ 2-3 viên, tổng liều trong ngày chỉ từ 2- 5 viên, sử dụng chủ yếu ở các ngày thứ 2 và thứ 3 là những ngày mà hội chứng cai diễn ra nặng nhất. Nếu so sánh với liều diazepam được phép sử dụng trong phác đồ ATK mà Bộ Y tế đã ban hành ( ở ngày thứ 2 và thứ 3 có thể dùng đến 4-5 lần, mỗi lần từ 4-5 viên, tổng liều trong ngày có thể tới 20- 25 viên) thì liều diazepam đã dùng ở nhóm bệnh nhân này là không đáng kể [1]. Với việc phối hợp thêm những liều nhỏ diazepam ở những ngày cao điểm nhất của hội chứng cai đã giúp cho 19/25 bệnh nhân trong nhóm ở lại điều trị đến hết liệu trình. Điều này cần được ghi nhận là một trong những thành công của thuốc Heantos 4 vì việc phối hợp Heantos 4 với diazepam đã giúp giảm đáng kể lượng diazepam và cũng không cần dùng thêm các thuốc ATK khác  tránh được những quan ngại khi sử dụng phác đồ này [11]. Như vậy, với 19 bệnh nhân này cũng cần được coi là những trường hợp thành công có mức độ vì những bệnh nhân này đã theo đuổi điều trị đến hết liệu trình nghiên cứu, khi ra viện đều có kết quả xét nghiệm nước tiểu tìm opiats âm tính, không còn hội chứng cai và thuốc sử dụng chủ yếu vẫn là Heantos 4.

c)  Nhận xét về lâm sàng.

* Về diễn biến hội chứng cai.

Điểm trung bình hội chứng cai của các nhóm bệnh nhân cao nhất ở các ngày thứ 2 và thứ 3. Nhóm không thành công có điểm trung bình hội chứng cai cao hơn các nhóm khác ở tất cả các ngày, nhưng rõ nhất ở các ngày thứ 2 và thứ 3, sự khác biệt là rất có ý nghĩa (p<0,001).

Đánh giá mức độ hội chứng cai ở các nhóm bệnh nhân theo tiêu chuẩn của đề cương nghiên cứu, chúng tôi thấy: Ngày thứ nhất hội chứng cai ở các nhóm bệnh nhân điều trị tại Bắc Ninh, Ba Vì chỉ ở mức rất nhẹ, nhóm không thành công cũng ở mức rất nhẹ, chỉ có nhóm điều trị tại Thường Tín ở mức nhẹ. Ngày thứ 2 và thứ 3 hội chứng cai diễn ra nặng nhất, nhóm không thành công hội chứng cai ở mức độ vừa nhưng với các nhóm khác chỉ ở mức độ nhẹ. Ngày thứ 4 hội chứng cai nhóm không thành công ở mức nhẹ, các nhóm khác ở mức rất nhẹ. Từ ngày thứ 5 trở đi hội chứng cai ở tất cả các nhóm chỉ còn ở mức rất nhẹ.

Bệnh nhân điều trị bằng thuốc Heantos 4 có thời gian tồn tại của hội chứng cai ngắn. Đa số bệnh nhân ở các nhóm có thời gian hội chứng cai âm tính là từ 2-3 ngày và 4- 5 ngày. Nhóm điều trị tại Ba Vì có tỷ lệ bệnh nhân hội chứng cai âm tính ở ngày 2-3 nhiều nhất (38,78%), tiếp đến là nhóm điều trị tại Thường Tín (31,11%) và nhóm điều trị tại Bắc Ninh (28,26%). Nhóm có tỷ lệ bệnh nhân hội chứng cai âm tính ở 4-5 ngày nhiều nhất là nhóm điều trị tại Thường Tín (64,44%), tiếp đến là nhóm điều trị tại Bắc Ninh (60,87%) và nhóm điều trị tại Ba Vì (57,14%). Chỉ một số ít bệnh nhân ở các nhóm có hội chứng cai tồn tại đến 6- 7 ngày. Nhóm có tỷ lệ hội chứng cai âm tính ở 6- 7 ngày nhiều nhất là nhóm điều trị tại Bắc Ninh (10,87%). Khác biệt giữa các nhóm bệnh nhân điều trị ở các địa điểm về thời gian hội chứng cai âm tính là không có ý nghĩa (p> 0,05).

   Nhìn chung hội chứng cai ở những bệnh nhân điều trị thuốc Heantos 4 thành công chỉ diễn ra ở mức độ nhẹ và rất nhẹ. Ngày thứ 2, thứ 3 hội chứng cai có phần nặng hơn nhưng từ ngày thứ 4 trở đi lại thuyên giảm nhanh. Quan sát trên thực tế chúng tôi cũng thấy bệnh nhân điều trị bằng thuốc Heantos 4 nhanh chóng hồi phục sức khỏe, nhanh chóng tỉnh táo, ăn uống tốt và có tinh thần sảng khoái.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với những kết quả đã đạt được trong nghiên cứu giai đoạn II [5],[8].

* Phân tích diễn biến các triệu chứng của hội chứng cai.

   Nhận xét diễn biến các triệu chứng cai ở bệnh nhân về mức độ diễn biến, sự thuyên giảm, thời gian tồn tại của triệu chứng và tỷ lệ xuất hiện ở các nhóm bệnh nhân chúng tôi nhận thấy:

     Về tỷ lệ xuất hiện của các triệu chứng cai qua theo dõi những bệnh nhân sử dụng Heatos 4 đơn thuần và thống kê trong suốt liệu trình điều trị chúng tôi thấy: Có 3 triệu chứng ngáp, thèm ma túy, ớn lạnh nổi da gà thấy xuất hiện ở 100% số bệnh nhân các nhóm. Các triệu chứng thấy xuất hiện ở hầu hết các bệnh nhân là đau cơ chuột rút (91,84%- 100%), ngủ không yên (79,59%- 100%), chảy nước mắt (97,96%- 100%), ngạt mũi hắt hơi (84,78%- 97,96%), mạch nhanh huyết áp tăng (86,96%- 89,79%) . Các triệu chứng thấy xuất hiện ít ở bệnh nhân là buồn nôn và nôn (36,96%- 52,59%), co cơ bụng (39,13%- 43,70%), dãn đồng tử (47,83%- 63,70%), tiêu chảy (34,78%- 60,74%). Sự khác biệt giữa các nhóm về tỷ lệ xuất hiện của các triệu chứng cai là không có ý nghĩa (p>0,05).

  Về mức độ diễn biến của các triệu chứng cai ở cả 3 nhóm bệnh nhân điều trị tại các địa điểm khác nhau đều thấy: có 3 triệu chứng chỉ diễn ra ở mức độ rất nhẹ là buồn nôn và nôn, tiêu chảy, co cơ bụng. Có 4 triệu chứng chỉ diễn ra ở mức nhẹ là ngạt mũi, mất ngủ, mạch nhanh và giãn đồng tử. Có 3 triệu chứng diễn ra ở mức vừa vào những ngày hội chứng cai nặng nhất là chảy nước mắt, nước mũi, thèm ma tuý và đau mỏi cơ khớp. Chỉ có 2 triệu chứng đạt tới mức độ nặng ở những ngày hội chứng cai nặng nhất là ngáp và nổi da gà.

  Xét về thời gian tồn tại của các triệu chứng cai ở cả 3 nhóm bệnh nhân chúng tôi thấy: có 4 triệu chứng tồn tại đến ngày thứ 7 là mạch nhanh, mất ngủ, thèm ma tuý và ngáp. Có 3 triệu chứng tồn tại đến ngày thứ 6 là dãn đồng tử, đau mỏi cơ khớp và ngạt mũi hắt hơi. Có 5 triệu chứng thấy còn tồn tại ở một số ít bệnh nhân đến ngày thứ 5 là buồn nôn và nôn, tiêu chảy, nổi da gà, co cơ bụng, chảy nước mắt nước mũi. Như vậy có thể thấy thuốc Heantos 4 đã làm giảm đáng kể thời gian tồn tại của đa số các triệu chứng cai được khảo sát.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với những kết quả  nghiên cứu đã đạt được về Heantos 4 trước đó [4],[5],[8].

  Tóm lại qua phân tích diễn biến các triệu chứng cai ở bệnh nhân chúng tôi nhận thấy thuốc Heantos 4 có tác dụng làm hạn chế xuất hiện các triệu chứng tiêu chảy, buồn nôn và nôn ở bệnh nhân cai nghiện ma túy nhóm opiats. Rút ngắn thời gian tồn tại của các triệu chứng ngáp, vã mồ hôi, chảy nước mắt nước mũi ở những bệnh nhân trên. Thuốc có tác dụng hồi phục giấc ngủ và làm giảm đau mỏi cơ khớp ở bệnh nhân.

* Về thời gian cắt cơn nghiện.

Đa số bệnh nhân nhóm điều trị Heantos 4 thành công ở các địa điểm có thời gian cắt cơn nghiện từ  4-5 ngày (57,14% - 71,74%), chỉ có 2 bệnh nhân thời gian cắt cơn nghiện từ 6- 7 ngày. Khác biệt giữa các nhóm là không có ý nghĩa (p >0,05).

Nhóm không thành công có 5 bệnh nhân cắt được cơn nghiện ở 2-3 ngày, 17 bệnh nhân ở 4-5 ngày, 1 bệnh nhân ở 6-7 ngày. Trong nhóm cũng còn 2 bệnh nhân xin về sớm, kết quả xét nghiệm nước tiểu tìm opiats còn dương tính, chúng tôi xếp ở nhóm có thời gian cắt cơn nghiện trên 7 ngày nhưng thực chất đây là 2 bệnh nhân chưa cắt được cơn nghiện. Khác biệt giữa nhóm điều trị Heantos 4 thành công và nhóm không thành công về thời gian cắt cơn nghiện là rất có ý nghĩa (p<0,001).

* Về cân nặng của bệnh nhân.

Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số bệnh nhân ở các nhóm sau điều trị có tăng cân ( 75,22% ), nhóm bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TWI có số bệnh nhân tăng cân nhiều nhất (84,44%), tiếp đến là nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh (71,74%) và nhóm điều trị tại Trung tâm GD- L Đ- XH số 1 Hà Nội có tỷ lệ tăng cân ít nhất (53,06%). Có 13,04% tổng số bệnh nhân sau điều trị cân nặng không thay đổi, nhóm bệnh nhân điều trị tại Ba Vì có tỷ lệ cân nặng không đổi nhiều nhất (36,73%), tiếp đến là nhóm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh (10,87%) và tại Bệnh viện Tâm thần TWI (5,19%). Có 11,74% số bệnh nhân sau điều trị cân nặng giảm đi so với trước điều trị, nhóm bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Ninh có tỷ lệ bệnh nhân giảm cân nhiều nhất (17,39%), nhóm có tỷ lệ bệnh nhân giảm cân ít nhất là nhóm điều trị tại Ba Vì (10,21%). Khác biệt giữa các nhóm bệnh nhân về tỷ lệ biến đổi cân nặng giữa trước và sau điều trị là rất có ý nghĩa (p < 0,001).

          Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sau điều trị cân nặng trung bình ở các nhóm bệnh nhân đều có tăng hơn so với trước điều trị, tăng nhiều nhất ở nhóm điều trị tại Bắc Ninh và Thường Tín khác biệt giữa trước và sau điều trị là rất có ý nghĩa ( p < 0,001). Nhóm bệnh nhân điều trị tại Ba Vì cũng có tăng cân, tuy nhiên mức độ tăng không nhiều như 2 nhóm điều trị tại Bắc Ninh và Thường Tín, sự khác biệt về cân nặng trung bình giữa trước và sau điều trị ở nhóm này cũng chưa đến mức có ý nghĩa (p>0,05). Sự khác biệt này có thể là do nhóm điều trị tại Ba Vì có số bệnh nhân nghiện ma túy ở mức độ nặng nhiều hơn 2 nhóm kia nên khả năng hồi phục cũng có phần kém hơn. Mặt khác việc cai nghiện tập trung, địa điểm lại ở xa nơi cư trú của bệnh nhân làm cho sự quan tâm động viên về tinh thần và vật chất của người thân không được kịp thời cũng có thể là nguyên nhân góp phần làm giảm khả năng hồi phục của nhóm bệnh nhân này.

*  Về tác dụng không mong muốn của thuốc.

Qua theo dõi trên lâm sàng 255 bệnh nhân nghiện ma tuý nhóm opiats được điều trị cắt cơn nghiện bằng thuốc Heantos 4 chúng tôi không thấy có bệnh nhân nào ở các nhóm nghiên cứu xuất hiện các tác dụng phụ không mong muốn.

d)  Nhận xét về cận lâm sàng.

* Về kết quả xét nghiệm nước tiểu tìm opiats.

  Ngày đầu tiên 100% số bệnh nhân ở các nhóm xét nghiệm nước tiểu đều có kết quả (+). Ngày thứ 3 nhóm điều trị tại Ba Vì có 38,78%, nhóm điều trị tại Bắc Ninh có 36,96%, nhóm điều trị tại Thường Tín có 31,11% số bệnh nhân xét nghiệm nước tiểu tìm opiats âm tính . Nhóm không thành công cũng có đến 28% số bệnh nhân có kết quả âm tính ở ngày thứ 3. Khác biệt giữa các nhóm không có ý nghĩa (p >0,05).

Ngày thứ 5 nhóm điều trị tại Ba Vì có 95,92%, nhóm điều trị tại Thường Tín có 88,15% và nhóm điều trị tại Bắc Ninh có 86,96% số bệnh nhân xét nghiệm opiats nước tiểu âm tính. Nhóm không thành công cũng có tới 17/22 bệnh nhân có kết quả âm tính bằng 77,27%. Khác biệt giữa các nhóm là không có ý nghĩa (p >0,05).

Đến ngày thứ 7 thấy 100% số bệnh nhân ở các nhóm có kết quả opiats nước tiểu (-). Nhóm không thành công còn 19 bệnh nhân điều trị đến ngày này cũng có kết quả âm tính.

Có 6 bệnh nhân xin về sớm trong quá trình điều trị. Kết quả xét nghiệm nước tiểu tìm opiats ở những bệnh nhân này thấy chỉ có 2/6 bệnh nhân khi ra viện kết quả còn dương tính (1 bệnh nhân xin ra ở ngày thứ 3 và 1 xin ra ở ngày thứ 6). Số còn lại 4 bệnh nhân (bằng 1,57% tổng số bệnh nhân) dù xin về sớm không điều trị đủ liệu trình nhưng khi xin ra kết quả xét nghiệm nước tiểu tìm opiats cũng đã âm tính, những bệnh nhân này cũng cần được coi là những trường hợp thành công có mức độ. Như vậy trong tổng số 255 bệnh nhân đã tham gia vào nghiên cứu này, số bệnh nhân thực sự không thành công khi được điều trị bằng thuốc Heantos 4 chỉ có 2 bệnh nhân bằng 0,78% tổng số bệnh nhân.

   Kết quả xét nghiệm nước tiểu tìm opiats (-) trong nghiên cứu giai đoạn II ở nhóm bệnh nhân được dùng Heantos 4: Ngày đầu tiên 100% số bệnh nhân có kết quả (+). Ngày thứ 3 có 22,58% số bệnh nhân và ngày thứ 5 có 90,32%, đến ngày thứ 7 thấy 100% số bệnh nhân có kết quả (-). So sánh những kết quả đạt được trong nghiên cứu này với kết quả của giai đoạn II về thời gian để xét nghiệm nước tiểu tìm opiats (-) chúng tôi thấy kết quả giữa 2 giai đoạn là tương đương nhau [5], [8].

  * Biến đổi các chỉ số về điện tim.

Kết quả cho thấy tại cả 3 địa điểm nghiên cứu những chỉ số về điện tim ở các nhóm bệnh nhân trước và sau điều trị có biến đổi nhưng không đáng kể và không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Chỉ duy nhất có tần số tim sau điều trị có tăng nhưng vẫn trong giới hạn bình thường và so với trước khi điều trị sự khác biệt cũng chưa đến mức có ý nghĩa (p > 0,05). Có thể thấy thuốc Heantos 4 ít có ảnh hưởng trên hệ tim mạch.

 * Biến đổi của các chỉ số sinh hóa, huyết học.

Kết quả nghiên cứu ở các nhóm bệnh nhân cho thấy đa số các chỉ số xét nghiệm sinh hóa và huyết học không có sự biến đổi đáng kể nào giữa trước và sau điều trị (p > 0,05). Chỉ có các chỉ số về máu lắng là thấy có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm bệnh nhân điều trị ở các địa điểm nghiên cứu khác nhau. Các nhóm bệnh nhân điều trị tại Bắc Ninh và Ba Vì sau điều trị chỉ số máu lắng ở cả 2 thời điểm đều có tăng nhẹ, sự khác biệt là rất có ý nghĩa ( p < 0,001). Nhóm bệnh nhân tại Thường Tín sau điều trị các chỉ số máu lắng ở cả 2 thời điểm đều có giảm nhẹ so với trước điều trị, tuy nhiên sự khác biệt là không có ý nghĩa (p>0,05). Chúng tôi thấy sự khác biệt này giữa các nhóm bệnh nhân có thể do ảnh hưởng của quá trình bảo quản và vận chuyển bệnh phẩm gây ra.

Như vậy có thể thấy thuốc Heantos 4 ít có ảnh hưởng đến sự biến đổi của các chỉ số sinh hóa, huyết học ở những bệnh nhân điều trị cắt cơn cai nghiện ma túy nhóm opiats.

 * Biến đổi về tâm lý ở các nhóm bệnh nhân.

          Kết quả nghiên cứu cho thấy ở tất cả các nhóm bệnh nhân, tỷ lệ bệnh nhân có kết quả test Beck bình thường và trầm cảm nhẹ sau điều trị đều tăng lên, tỷ lệ bệnh nhân có kết quả trầm cảm vừa và trầm cảm nặng đều giảm đi. Sự khác biệt giữa trước và sau điều trị của các tỷ lệ này là có ý nghĩa thống kê ở tất cả các nhóm bệnh nhân (p<0,05- 0,001).

  Kết quả nghiên cứu bằng test Zung cũng cho thấy ở tất cả các nhóm bệnh nhân sau điều trị tỷ lệ bệnh nhân có lo âu đều giảm đi, tỷ lệ không có lo âu đều tăng lên. Khác biệt giữa trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê (p< 0,05- 0,001).

    Qua phân tích kết quả các test tâm lý Beck, Zung được làm ở các thời điểm trước và sau điều trị cho thấy thuốc Heantos 4 có tác dụng giảm nhẹ mức độ trầm cảm (thể hiện trên test Beck), giảm nhẹ lo âu ( thể hiện trên test Zung)  có ở bệnh nhân nghiện ma túy nhóm opiats.

13.2. Kết luận chung

Qua theo dõi điều trị 255 bệnh nhân nghiện ma tuý nhóm opiats bằng thuốc Heantos 4 tại 3 địa điểm nghiên cứu khác nhau, chúng tôi nhận thấy:

- Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng Heantos 4 đơn thuần, điều trị đủ liệu trình là 90,2%. Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng Heantos 4 phối hợp với diazepam liều thấp điều trị đủ liệu trình là 7,46%. Tỷ lệ bệnh nhân phối hợp với diazepam liều thấp xin về sớm, có xét nghiệm nước tiểu tìm opiats khi ra viện (-) là 2,35%. Tỷ lệ bệnh nhân phối hợp với diazepam liều thấp xin về sớm, có xét nghiệm nước tiểu tìm opiats khi ra viện (+) là 0,78%.

       - Giữa các nhóm bệnh nhân điều trị tại các địa điểm khác nhau không thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kết quả điều trị (p> 0,05). Kết quả điều trị chung của nhóm sử dụng Heantos 4 đơn thuần: đạt loại tốt (31,74%), khá (57,83%), trung bình (10,43%), kém (0%). Kết quả điều trị ở nhóm sử dụng Heantos 4 phối hợp với diazepam liều thấp: tốt (16%), khá (60%), trung bình (16%), kém (8%). 

+ Thuốc Heantos 4 có tác dụng hỗ trợ điều trị cắt cơn cai nghiện ma tuý nhóm opiats.

+ Thuốc sử dụng đơn giản, dễ uống, số lượng uống mỗi lần không nhiều.

+ Thuốc Heantos 4 có tính an toàn cao trong điều trị hỗ trợ cắt cơn cai nghiện ma túy nhóm opiats. Bửnh nhân được dùng thuốc Heantos 4 cắt cơn nghiện ma túy cả trên lâm sàng và các chỉ số huyết học, sinh hóa, điện tim không thấy xuất hiện tác dụng không mong muốn.

 

14. Bảng, biểu đồ, đồ thị có liên quan.

Bảng 12. Số lần uống thuốc trong ngày ở các nhóm bệnh nhân.

Ngày

Địa điểm

Uống 1 lần/24h

Uống 2 lần/24h

n

%

n

%

Ngày 1

Bắc Ninh

0

-

46

100

Ba Vì

28

57,14

21

42,86

Thường Tín

39

28,89

96

71,11

Ngày

2-3

Bắc Ninh

0

-

46

100

Ba Vì

0

-

49

100

Thường Tín

0

-

135

100

Ngày

4-7

Bắc Ninh

46

100

0

-

Ba Vì

49

100

0

-

Thường Tín

135

100

0

-

 

Biểu đồ 1. Kết quả điều trị ở bệnh nhân nghiên cứu

Bảng 17. Xếp loại kết quả điều trị.

Chỉ tiêu đánh giá

Tốt

Khá

Trung bình

Kém

 

P

n

%

n

%

n

%

n

%

Bắc Ninh

13

28.26

28

60.87

5

10.87

0

-

 

>0,05

Ba Vì

19

38,78

28

57,14

2

4,08

0

-

ThườngTín

41

30.37

77

57.04

17

12.59

0

-

Tổng TC

73

31,74

133

57,83

24

10,43

0

-

 

<0,001

KTC

4

16,00

15

60,00

4

16,00

2

8,00

 

Bảng 18.  Điểm trung bình hội chứng cai ở các  nhóm bệnh nhân.

Ngày

1

2

3

4

5

6

7

Bắc Ninh

5,30

11,56

10,39

5,37

3,24

1,67

0,54

Ba Vì

5,65

11,59

9,71

5,06

3,02

1,61

0,59

Thường Tín

6.18

11.73

10.32

5.56

3.26

1.63

0.56

Nhóm KTC

5,84

14,20

12,64

6,61

3,38

2,43

1,50

Pktc-cn

 

<0,001

<0,001

 

 

 

 

 

Bảng 19. Đánh giá mức độ hội chứng cai ở các nhóm bệnh nhân.

Ngày

1

2

3

4

5

6

7

Bắc

Ninh

%ĐTĐ

22.10

48.19

43.30

22.37

13.50

6.94

2.26

HCcai

Rnhẹ

Nhẹ

Nhẹ

Rnhẹ

Rnhẹ

Rnhẹ

Rnhẹ

Ba

%ĐTĐ

23,55

48.29

40,47

21,09

12,59

6.71

2,47

HCcai

Rnhẹ

Nhẹ

Nhẹ

Rnhẹ

Rnhẹ

Rnhẹ

Rnhẹ

Thường

Tín

%ĐTĐ

25.77

48.89

42.99

23.18

13.58

6.79

2.35

HCcai

Nhẹ

Nhẹ

Nhẹ

Rnhẹ

Rnhẹ

Rnhẹ

Rnhẹ

KTC

%ĐTĐ